Trần Kỳ Trung
.
Đêm nay tôi và Hằng đi trên bãi biển, gió từ xa thổi lại làm mơn man những con sóng nhỏ, mát lạnh, cát dưới chân mềm mại… Thường những buổi dạo đêm như thế này thấy thư thái nhưng sao đêm nay tâm trạng tôi trong khung cảnh ấy, thấy buồn đến lạ. Ngày mai tôi phải chia tay với Hằng. Em đi bên hình như không để ý đến tâm trạng tôi lúc đó, vẫn bước, những bước chân thoải đều trên bãi biển rồi Hằng dừng lại, nhìn ra xa, nói với tôi:
– Tối nay là tối ba mươi, không có trăng nên mặt biển đen, thầy ạ. Giá như có trăng, buổi chia tay em với thầy có thêm một kỷ niệm nữa, để nhớ !
Không cần thế đâu em, thế này cũng đã nhớ lắm rồi, tiếng sóng dưới chân vỗ nhẹ, những ngôi sao nhấp nháy tít trên cao không thể làm cho mặt biển sáng thêm và hình như, mặt biển đen cùng tiếng sóng vỗ là một sự níu kéo trong bất lực. Tôi hỏi em :
– Với quyết định này của tổ chức nhà trường, em có buồn không ?
– Không, thầy ạ! Em thấy bình thường, có việc gì đâu mà phải buồn!
Lạ nhỉ, chuyện như thế, mà em nói có vẻ “bình thường”, không giống như tôi nghĩ. Hay là …
Trước ngày thống nhất đất nước, ở miền Nam, Hằng là giáo viên dạy môn văn, ở một trường trung học đệ nhất cấp (Tương đương cấp II). Đất nước thống nhất, em thôi dạy học, để thi đại học. Hằng đỗ điểm vào đại học khá cao. Trong lớp tôi chủ nhiệm, Hằng là người gần như lớn tuổi nhất, tôi chú ý đến em không phải vì em nét mặt đẹp nhưng trông hơi buồn, cũng không phải dáng người thanh mảnh cùng mái tóc đen dày phủ bờ vai thon gọn, mà chú ý vì cách nói chuyện của Hằng. Em nói chuyện từ tốn, nhẹ nhàng, dễ cuốn hút. Em thuộc nhiều thơ, không riêng những bài thơ tiền chiến, mà cả những bài thơ “hừng hực khí thế” của mấy nhà thơ bên cách mạng, em cũng thuộc. Hằng đọc những bài thơ ấy cho tôi nghe bằng giọng rất truyền cảm. Tôi rất tin, với kiến thức sẵn có, lại chăm học, ham học hỏi, Hằng ra trường, nhất định em sẽ trở thành một cô giáo dạy văn giỏi. Tôi với Hằng, mới có gần năm tháng của học kỳ một, trong năm đầu tiên đại học, biết nhau. Không phải, nếu tính thật chi tiết, những giờ, ngày… gặp nhau, lúc lên lớp giảng bài, lúc họp lớp, rồi những buổi trò, thầy tới thăm nhau hoặc như lúc tôi nhìn thấy Hằng, “đánh” vội ánh mắt để “gặp” trong tích tắc, thời gian đó có bao nhiêu đâu, không giấu, tôi có cảm tình với em, dù ở cương vị này đòi hỏi có sự nghiêm túc, nhất là đối với sinh viên nữ. Còn Hằng, hình như em có tình cảm với tôi, đó là theo cảm nhận, khi tôi nghe em nói:
– Hôm qua lên lớp, em thấy thầy có vẻ mệt, thầy giảng, không nên nói to, giữ sức, chúng em nghe được mà !
Quả thật trước hôm đó, tôi bị sốt nhẹ, nhưng bên ngoài cố biểu hiện không có vấn đề gì, giấu thế mà Hằng cũng biết. Rồi nữa, chiếc sơ mi tôi thường mặc, rách một đường sau lưng, phơi bên cửa sổ trong khu giáo viên. Cùng mấy bạn sang chơi, để ý thấy, Hằng xin phép tôi mang chiếc áo đó về, khâu lại. Đường chỉ Hằng khâu, rất kín, đẹp như người ta đạp máy. Tôi nhìn đường chỉ đó thầm phục, em rất khéo tay. Mấy bạn sinh viên nữ ở cùng phòng với Hằng trong khu ký túc xá thường đùa, nhưng có lẽ như để cho tôi ngầm hiểu rằng Hằng cũng mến tôi:
– Thầy ơi! Trong giờ giảng ngày mai, thầy gọi chị Hằng lên trả bài nhé. Chị Hằng mong lắm đấy!
– Chúng em đố thầy, chị Hằng thích thầy nào giảng bài nhất? – Không đợi tôi trả lời, tất cả đồng thanh – Thầy !
– Chị Hằng nói, thầy chỉ hơn chị có bốn, năm tuổi chứ mấy…
Sau những lời nói đó là tiếng cười khúc khích, những cái đấm lưng thùm thụp…
Nghe vậy, nét mặt Hằng lạnh, tuy không tỏ ra bực mình, nhưng lại khẽ lắc đầu, em nói, giọng nghiêm túc:
– Không phải như thế đâu, thầy đừng tin các bạn ấy nói.
Những lần nói chuyện với Hằng, tôi biết hoàn cảnh gia đình em. Cha của Hằng là một công chức trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa làm việc rất mẫn cán, đầy trách nhiệm, ai cũng mến. Trong gia đình, ông là người chồng thương vợ, người cha thương con, ai cũng cảm phục, tự hào. Sau năm một chin bảy lăm, ông thất nghiệp, tạm làm xe ôm đón khách, bữa có khách, bữa không, gia đình rơi vào cảnh khốn khó về kinh tế, nhưng không phải vì thế mà ông bi quan. Ông luôn động viên Hằng, phải giữ nghề giáo, có điều kiện nên đi học thêm. Chính lẽ đó, đang dạy môn văn ở một trường cấp II, em tạm rời bục giảng, thi vào đại học, nơi tôi công tác. Hằng nói về người cha với sự kính trọng và có hiếu :“ Em không muốn ba em buồn, lúc nào em cũng muốn cho ba vui”.
Nghe Hằng kể chuyện gia đình tôi càng thương em hơn, muốn nói với em điều đó, nhưng sao khó quá.
Suy nghĩ nhiều, rồi tôi quyết định.
Tối ấy!
… Hai chúng tôi cùng đi dạo trên bãi biển vắng, cả hai đi được một đoạn đường dài, có lúc như chạm vào nhau, rồi giật mình, tách vội ra xa, có chút lúng túng, ngượng ngập mà gần như cả hai, tôi và em, không nói với nhau được một lời nào. Nhưng khoảng khắc im lặng đó, tôi tin, có khi nói được bao điều… Đi một đoạn xa, phá vỡ sự im lặng, Hằng giục tôi:
– Sao thầy không nói với em điều gì đi!
– Hằng à…tôi muốn nói với em…- Tôi ấp úng, dù tưởng chuẩn bị đầy đủ, ấy vậy quả thật tôi không biết nên diễn đạt thế nào cho Hằng hiểu, nhất là lúc này.
Chúng tôi dừng lại, Hằng nhìn tôi, trong bóng đêm vẫn cảm thấy cái nhìn thấm đẫm thương yêu nhưng giọng của Hằng rất bình tĩnh:
– Thầy muốn nói với em điều gì ?
– Hằng…!
– Em hiểu! – Hằng nói như có sự chuẩn bị trước – Em hiểu tình cảm của thầy dành cho em… nhưng lúc này không thể… không thể, thầy ạ!
– Vì sao ? – Tôi hỏi.
– Em sẽ giải thích, nhưng lúc này … không thể – Im lặng một lúc rồi em nói tiếp – Nhưng… thầy phải cho phép em giữ tình cảm này và thầy… không được giận em!
Tôi có cảm giác không gian lúc này thật nặng nề, thời khắc cũng dường như dừng lại. Vẫn giọng của Hằng, Hằng như muốn kéo tôi đứng dậy, phải tỉnh táo, em cho tôi biết một chuyện:
– Hôm qua, thầy cho chúng em xem những tấm ảnh chụp thời thầy còn là sinh viên ngoài Bắc, em lấy một bức ảnh mà thầy không biết. Em xin lỗi thầy và thầy tặng cho em bức ảnh đó nghe !
Thở ra nhè nhẹ, có phần nản, nếu bây giờ tôi cầm một tập ảnh, Hằng muốn lấy, tôi cũng cho, giữ những tấm ảnh đen trắng ấy làm gì. Một thời mình ngây thơ, một thời bồng bột, ngộ nhận… để luôn nhận thất bại trong tình yêu. Bây giờ không phải thế, đây là lúc chín chắn hơn thời ấy, tôi nhìn thấy Hằng, một người con gái đẹp đủ những điều tôi cần…
Nhưng, Hằng gần đấy nhưng có vẻ xa xôi qúa, không lẽ giữa tôi với Hằng chỉ dừng lại tình thầy trò, không lẽ tôi sẽ mất em!!!
Cái điều tôi tưởng tượng lại hóa ra sự thật. Hằng buộc phải thôi học, trả về địa phương vì trong lý lịch em không ghi “có người chú tham gia quân đội của “ngụy” đang đi học tập cải tạo”!!! Một điều thấy quá vô lý, tôi liền hỏi ông Trưởng phòng tổ chức nhà trường:
– “ Chú ruột” của em Hằng đâu có dính dáng đến nhận thức, đạo đức, tư cách của em ấy mà chúng ta lại buộc em ấy thôi học!
Ông trưởng phòng tổ chức giương mục kỉnh lên nhìn tôi, ánh mắt có phần lạ lẫm, hoang mang:
-Ơ! Anh là một cán bộ giảng dạy của một trường đại học, dạy một bộ môn rất quan trọng mà nhận thức lệch lạc đến thế cơ à. Tôi hơi ngạc nhiên đấy! – Không đợi phản ứng của tôi, ông nói tiếp – Buộc em Hằng thôi học, trả về địa phương, ngoài việc em Hằng “dính” vào một trong mười ba trường hợp (1) để xét tuyển vào đại học, có người thân trong gia đình, họ hàng tham gia chế độ ngụy quân, ngụy quyền. Đã vậy em giấu không ghi lý lịch, biểu hiện sự không trung thực, minh bạch. Đây còn là yêu cầu địa phương, anh có muốn xem công văn của địa phương, nơi gia đình Hằng ở, gửi cho nhà trường không? Họ nói, chính ba của Hằng cũng từng là một công chức trung thành làm việc trong chế độ cũ. Vì sơ sót, kiểm tra chưa kỹ, nên họ đồng ý cho Hằng thi đại học. Chứ không, Hằng phải ở nhà không được nhập học ngay từ đầu học kỳ rồi…
– Thế anh không biết, em Hằng từng là cô giáo, dạy cho rất nhiều học sinh, hiện em là sinh viên học giỏi, có uy tín, không riêng tôi mà các đồng nghiệp của tôi trong khoa đều mến. Có chú ruột “tham gia quân đội chế độ cũ” không ảnh hưởng đến đạo đức, tư cách, kết quả học tập của em ấy, mà chúng ta buộc em ấy thôi học. Làm việc này đâu có thể hiện tính nhân bản, văn minh của chế độ ta. Các em sinh viên từng học với em Hằng sẽ nghĩ thế nào về việc này! – Tôi nói với sự phản ứng gay gắt.
Ông trưởng phòng tổ chức nhà trường lắc đầu, nói mà không có biểu hiện một chút nhân từ:
– Không, anh quá chủ quan! Sự căm thù cách mạng, căm thù chế độ mới của các thế lực chống phá nhà nước ta ghê gớm lắm, chúng không cam chịu thất bại. Biết đâu cô Hằng này, bề ngoài là như thế nhưng bên trong đang ấp ủ những mưu tính thâm độc ví như … – Ông trưởng phòng tổ chức nhà trường lấy tay vỗ vỗ lên trán – Cô ta giảng dạy rồi truyền đạt cho học sinh những bài văn, bài thơ ngầm xuyên tạc đường lối của đảng, nhà nước, kích động lòng hận thù, xây dựng trong tương lai một đội quân bí mật phá hoại chế độ. Chúng ta phải cảnh giác với những loại người này, không thừa!
– Tôi thấy việc làm này quá tàn ác, tại sao chưa thấy việc người ta làm mà anh đã suy luận như vậy?
– Anh dạy lịch sử mà chẳng hiểu lịch sử, đảng ta lãnh đạo dân tộc ta chiến thắng là do đâu, anh biết không ? Đó là sự cảnh giác, là luôn luôn đề phòng những trường hợp xấu nhất để có phương sách đối phó thích hợp. Còn anh nói tôi làm việc này “tàn ác”? Xin lỗi anh, chắc anh chưa quên những máy bay B-52 của Mỹ rải thảm bom khắp nước ta, chưa quên vụ Mỹ Lai, chưa quên hình ảnh những người dân lành bị chết trong những vụ càn quét của Mỹ – ngụy. Anh so sánh đi, ai “tàn ác” hơn ai! – Ông ta nhìn tôi cười mai mỉa.
Nói với những con người mà sự cố chấp, cực đoan, suy nghĩ một chiều trong đầu óc còn “cô đặc cứng hơn đá” như thế này bằng thừa, vạn lời phản biện của tôi cũng vô ích, không cần thiết. Lúc này, tôi nghĩ, cần động viên Hằng, giúp em vượt qua cú sốc quá lớn này.
Tôi lại “lầm” một lần nữa, người cần động viên là tôi, chứ không phải là Hằng…
… Đi bên tôi, dọc bãi biển vắng, Hẵng vẫn bình thản bước những bước nhẹ nhàng, không chút vội vã, em nói, giọng không chút tư lự, đắn đo mà bình thản như không có việc gì xảy ra:
– Thầy đừng buồn nhiều về chuyện của em. Em thôi học, về lại gia đình, cũng là điều mừng, em sẽ có điều kiện giúp ba, là chỗ dựa cho mấy đứa em học tiếp, chúng nó học giỏi lắm…
– Em không tiếc à! – Vừa nói tôi vừa nắm tay em, muốn kéo em vào sát người tôi.
Em vội rút tay ra và khẽ đứng xa tôi, nói như lẫn với hơi thở, lẫn với cả sự xúc động :
– Em tiếc chứ ! tiếc nhất là xa thầy và các bạn, mới có mấy tháng mà không biết bao nhiêu kỷ niệm, những kỷ niệm này sẽ đi theo em suốt cuộc đời. Không biết trong tương lai, em sẽ được gặp lại thầy và các bạn không? – Lúc này em lại nắm tay tôi, nói gần như gấp gáp – Thầy phải hứa với em một điều, thầy có dám hứa không ?
Tôi trả lời ngay, không chút đắn đo:
– Tôi hứa!
– Bao giờ thầy có tin vui, nhất định thầy phải cho em biết! Thầy hứa đi.- Hằng giục.
– Em nói gì tôi không hiểu, tôi tưởng em yêu cầu tôi nói… nhưng hôm nay với em, tôi sẽ nói… – Tôi định nói hết nỗi lòng của mình cho Hằng biết, tôi không muốn mất em, em mãi mãi thuộc về tôi, nhưng Hằng đã ngăn lại:
– Em hiểu thầy định nói điều gì rồi nhưng thầy không được nói điều đó… Không được… không được… thầy ạ! Lúc này… Không được…
Giọng em dứt khoát, tôi chưa từng nghe, rồi em buông tay tôi, quay người, chạy rất nhanh mất hút trong bóng đêm.
Sóng biển của đêm đen vẫn vỗ dưới chân…
… Tiễn Hằng về lại gia đình, cả tháng liền tôi không làm được bất cứ việc gì, hình ảnh của em cứ lẩn khuất trong đầu. Sang khu ký túc xá sinh viên, tôi vẫn thấy hiển hiện hình ảnh của em đứng lẫn đang nói chuyện với các bạn cùng lứa ở hành lang… Nhớ nhất đêm chia tay trên bãi biển, tiếng của Hằng vẫn như văng vẳng đâu đây…
Sau đợt dẫn sinh viên đi viết lịch sử địa phương, về lại trường, tôi nhận được thư em. Lá thư Hằng gửi cho tôi, nằm văn phòng Khoa cũng được hơn hai tuần.
Trong thư Hằng viết:
“… Cho phép em gọi được một tiếng “ Anh ”
Anh thân yêu!
Đoc những lá thư anh gửi, em biết tình cảm của anh dành cho em. Thương lắm, nhưng em có linh tính, nếu yêu anh, em sẽ làm khổ anh. Tương lai của anh rất đẹp, em không thể làm xấu tương lai đó, dù rất yêu anh, em vẫn phải khước từ tình cảm của anh dành cho em. Và sự thật đúng như em linh tính, thậm chí còn lớn hơn cả những điều em linh tính, nó bắt em phải xa anh. Em muốn hỏi biển rộng, trời cao, non xanh, tại sao người ta không muốn cho em đi chung đường với anh? Em có gây nên tội tình này đâu! Em yêu anh thật lòng mà, muốn bên anh mãi mãi, vậy mà lúc này, là không thể. Anh có tin không, anh là người yêu duy nhất, mãi mãi. Anh hãy tha lỗi cho em những lúc em cư xử không đúng với anh. Em làm vậy vì em muốn anh quên em, để một mình em nhớ anh thôi. Lúc em viết lá thư này là tấm ảnh của anh để trước mặt. Dù xa anh, nhưng anh luôn bên cạnh em. Thương anh nhiều lắm! ”.
Thư của Hằng gửi, do điều kiện khách quan mà nhận chậm trễ (2), không thể trách ai, vậy mà điều này làm tôi tức giận. Giá như lá thư này nhận sớm hơn, tôi đã gặp Hằng rồi.
Không thể chậm hơn nữa, từ mờ sáng hôm sau, tôi ra bến xe, cố chen, mua bằng được chiếc vé về quê của Hằng. Xe khách dùng nhiên liệu bằng than, (3 ) chạy chậm kinh khủng. Đã vậy, tôi ngồi hàng ghế sau, sát lò than, cái nóng như thiêu, như đốt, hầm hập, mồ hôi đổ ra dầm dề, cả người ám bụi, quá khổ, nhưng sẽ khổ hơn nếu như tôi không gặp được Hằng.
Tôi mong gặp em, tính đến từng giây trên đường xe chạy…
Gần chiều, tôi mới đến được ngôi nhà của gia đình Hằng ở, nhưng sao ngôi nhà lại trống vắng thế này, cửa khóa, có giấy dán niêm phong. Tôi ngơ ngác, hay là mình nhìn lầm. Không, đúng mà! Đúng như ghi trong địa chỉ Hằng cho tôi, sao nhà không có ai…
Tôi toan quay ra, thì có người đi đến, hỏi:
– Chú tìm ai?
– Dạ, xin phép cho cháu hỏi, đây có phải là nhà của cô giáo Hằng con ông Tín không ạ!
– Đúng rồi, vậy chú muốn gặp ai?
Tôi hơi lúng túng, rồi cũng nói:
– Cháu muốn tìm cô giáo Hằng…cháu…
– Thế chú chưa biết tin gì à!
-Tin gì ạ! -Tôi giật mình, như có luồng điện chạy dọc sống lưng.
– Cách đây hơn mười ngày, cả nhà cô ấy vượt biên, nhưng không thành. Thuyền nhỏ, người đông vừa ra thoát cửa sông thì bị chìm, chết tất cả, may người ta vớt được xác cô ấy cùng hai người em, chôn ở nghĩa địa xã, chú muốn đến viếng, tôi chỉ. Còn ngôi nhà này chính quyền niêm phong rồi. Gia đình này chết, tội lắm!
Trời đất như quay cuồng trước mặt, tôi gào lên trong tiếng nấc:
– Hằng ơi! Chuyện này có thật không em?
Tôi gọi tên em, rồi tiếng gọi đứt lịm trong ánh hoàng hôn đang buông và…
… bóng tối nhập nhòa cũng đang chuẩn bị tràn đến.
HẾT
————-
Chú thích:
(1) Thi đỗ vào đại học, hồi ấy, những năm đầu mới thống nhất đất nước, xét tuyển lý lịch rất ghê gớm. Nhiều thí sinh giỏi, thi đỗ điểm cao, nhưng bị trượt vì nguyên nhân có “lý lịch không trong sạch”!!!
(2) Những năm bảy mươi, thế kỷ trước, chưa có điện thoại di động. nếu có, chưa chắc có truyện ngắn này.
(3) Thời bao cấp, không có xăng, xe ô tô phải chạy bằng than, chạy rất chậm, ai ngồi gần, nóng hơn “lò bánh mỳ”, ấy vậy mua vé được đi xe này không dễ. Hồi ấy ai ở Quy Nhơn đi Đà Nẵng, một lần chứng kiến, sợ đến già.

